Trang chính
Trang chủ Thời khóa biểu Phản hồi Kết quả học tập Video Liên hệ EMAIL
 Trực tuyến trên site 
 Khách: 001
 Thành viên: 000
 Tổng cộng 001
 Hits 000980732
IP của bạn: 54.167.182.201
 Đăng nhập 
Bí danh
Mật khẩu
Ghi nhớ
 Quảng cáo 
 
Thư Viện Giáo Án Điện Tử
 
Truy Cập Mail
 
Tìm Kiếm
 
Sở Giáo dục - Đào tạo Sóc Trăng
 
Tin tức » Dạy và Học » Văn 20.10.2014 08:00
Chuyên đề
21.02.2011 14:19

“TĂNG CƯỜNG RÈN LUYỆN KỸ NĂNG VIẾT VĂN TỰ SỰ
CHO HỌC SINH LỚP 6, TRÊN CƠ SỞ KHAI THÁC
CÁC YẾU TỐ KỂ CHUYỆN TRONG VĂN TỰ SỰ”

A/ ĐẶT VẤN ĐỀ:

Sách Ngữ Văn 6 ( NV6) hiện nay là dạng tích hợp của ba phân môn Văn học – Tiếng việt – Tập làm văn, sự tích hợp đó đã tạo nên một nét mới đối với việc giảng dạy của giáo viên, với học sinh Trung học cơ sở nói chung và học sinh lớp 6 nói riêng.

Trong quá trình tiếp cận thể lọai văn tự sự cũng như cách thức viết văn tự sự. Tôi nhận thấy, việc học sinh muốn kể lại một câu chuyện đã trở nên khó khăn so với chương trình cũ. Để kể được câu chuyện hay, học sinh cần phải nắm được các yếu tố kể chuyện trong văn tự sự. Ngòai ra cần phải có sự kết hợp giữa miêu tả và biểu cảm.

Thông thường học sinh có thói quen khi giáo viên yêu cầu kể thì cứ kể chứ không quan tâm đến các yếu tố kể chuyện. Vì vậy học sinh làm văn kể chuyện còn nhiều thiếu sót.

Đó chính là điều tôi trăn trở trong suốt những năm giảng dạy chương trình thay sách vừa qua. Để học sinh lớp 6 dễ dàng phát huy khả năng kể chuyện của mình, tôi đã đúc kết được biện pháp “Tăng cường rèn luyện kỹ năng viết văn tự sự cho học sinh Lớp 6 trên cơ sở khai thác các yếu tố kể chuyện trong văn tự sự”.

B/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

                 I/ Thực trạng chung

Hiện nay học sinh bậc Trung học cơ sở còn khá nhiều mặc hạn chế trong việc làm văn, đặc biệt là học sinh đầu cấp THCS (lớp 6). Vì các em vừa mới ở bậc tiểu học chuyển lên lại phải tiếp xúc với chương trình thay sách giáo khoa. Những hạn chế mà các em học sinh THCS nói chung và học sinh lớp 6 nói riêng thường mắc phải là:

- Các em chủ yếu là được dạy học vần, đặt câu, viết chính tả. Khi làm văn lại theo khuôn mẫu chưa có tính sáng tạo và đào sâu, năng lực diễn đạt còn yếu.

- Phân môn tập làm văn của bậc tiểu học cũng chỉ học sơ lược về thể loại kể chuyện, không chuyên sâu vào các yếu tố kể chuyện.

           Chính vì những thực trạng trên nên khi các em rời khỏi bậc tiểu học lên THCS phải tiếp cận với môn ngữ văn khá xa lạï (có cả ba phân môn: Văn học - Tiếng việt - Tập làm văn) vừa ngỡ ngàng, vừa phức tạp vì một bài phải học nhiều phân môn khác nhau nhưng có mối quan hệ với nhau (theo hướng tích hợp). Nhất là đối với phân môn Tập làm văn  học sinh khó có thể tiếp thu nhanh chóng về thể loại kể chuyện. Đó chính  là cái khó mà giáo viên dạy Ngữ văn 6 phải nhận lấy; đồng thời người giáo viên dạy ngữ văn 6 còn phải rèn luyện cho học sinh nắm vững kiến thức để làm nền tảng cho các em lên những lớp cao hơn.

Do chương trình sách giáo khoa Ngữ văn 6 theo quan điểm giáo dục tích hợp hiện đại nên việc dạy và học của giáo viên và học sinh gặp không ít khó khăn. Chính vì thế mà tôi mạnh dạn áp dụng kinh nghiệm qua 5 năm dạy chương trình thay sách giáo khoa Ngữ văn 6 đó là: biện pháp “Tăng cường rèn luyện kỹ năng viết văn tự sự cho học sinh Lớp 6 trên cơ sở khai thác các yếu tố kể chuyện trong văn tự sự”.

          II/ Nội dung biện pháp:

1.       Đặc điểm cơ bản của hình thức kể chuyện:

                  * Khái niệm:

Kể chuyện là một thể loại mà người ta dùng ngôn ngữ (lời nói, lời văn) làm sống lại một câu chuyện, tức là trình bày lại một sự việc có sự chuyển động, sự diễn biến trong không gian, thời gian, có sự bắt đầu, có phát triển và kết thúc với sự tham gia, sự họat động của con người, sự vật”.

Sách Ngữ Văn 6 tập 1 trang 28 nêu khái niệm về văn “Tự sự là phương thức trình bày một chuỗi các sự kiện, sự việc này dẫn đến sự việc khác cuối cùng dẫn đến một kết thúc, thể hiện một ý nghĩa”.

                  * Đặc thù của kể chuyện:

Trong văn kể chuyện cần phải đảm bảo các yêu cầu sau :

- Ngôn ngữ trong văn kể chuyện (lời kể, văn kể) có các lọai cơ bản như:

   + Lời dẫn truyện của người kể.

   + Lời nói của nhân vật trong truyện.

                - Cách thức kể chuyện: để có câu chuyện hay, người kể (Học sinh) cần phải nắm vững các bước sau:

    + Đọc, tìm hiểu và cảm thụ câu chuyện.

    + Chọn ngôn từ và ngữ điệu kể (tùy theo tính cách từng nhân vật).

    + Nét mặt, cử chỉ, điệu bộ và các biện pháp hỗ trợ khác của người kể (lời kể).

        1.3.  Ý nghĩa và lợi ích riêng của việc kể chuyện:

Để câu chuyện được hình thành, người viết (người kể) cần phải nắm chắc các yếu tố cơ bản của văn kể như : sự việc, nhân vật, cốt truyện, lời kể, ngôi kể, thứ tự kể. Từ đó người kể (học sinh) mới có thể làm sống lại câu chuyện, khi chuyện kể đã được làm sống lại đồng nghĩa là câu chuyện đó sẽ không mất đi mà vẫn tồn tại với thời gian. Vì thế kể chuyện có một ý nghĩa và lợi ích vô cùng quan trọng, nhất là đối với học sinh.

Chính từ đó, người giáo viên phải có phương pháp phù hợp để học sinh dễ nắm bắt cách kể cũng như kể lại được câu chuyện hay.

                2/ Các kỹ năng nhằm giúp học sinh khai thác các yếu tố kể chuyện trong văn tự sự :

                Trong quá trình truyền đạt kiến thức về văn kể chuyện, giáo viên cần phải dạy cho học sinh nắm được các nội dung cơ bản sau:

                2.1 Đối với giáo viên:

            Giáo viên là người dẫn dắt, điều khiển để học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức bổ sung cho việc kể chuyện (theo phương pháp mới) giáo viên dạy cái gì? Hướng dẫn điều gì ? Dạy như thế nào ? Để học sinh dễ tiếp thu đó là điều quan trọng đối với giáo viên trong quá trình truyền đạt kiến thức. Vì thế bản thân giáo viên ngòai việc chuẩn bị kĩ ở nhà trước khi đến lớp và lưu ý kỹ những phần quan trọng trong tiết học đó.

        a/ Hướng dẫn học sinh nắm vững khái niệm về văn tự sự :

            Giáo viên đưa ra câu chuyện hoặc một văn bản mà học sinh đã học cho học sinh tham khảo. Giáo viên gợi ý cho học sinh tự tìm khái niệm về văn tự sự.

                Giáo viên cho học sinh kể lại một câu chuyện (hoặc tự sáng tạo) qua các lưu ý mà giáo viên đã hướng dẫn (đây chính là bước giúp cho học sinh có kĩ năng dễ dàng kể chuyện sau này)

             Lưu ý : Giáo viên phải hướng dẫn: Câu chuyện đó đề cập đến vấn đề gì ? Có      

các sự kiện nào ? Ai là nhân vật chính ? Ai là người kể ? Các sự việc đó diễn ra như thế nào? Kết thúc ra sao ? Từ đó giáo viên bắt đầu hình thành khái niệm cho học sinh.

        b/ Hướng dẫn học sinh khai thác các yếu tố tạo nên câu chuyện trong văn tự sự :

                    Từ khái niệm về văn tự sự giáo viên phải dẫn dắt học sinh tìm hiểu những yếu tố cấu thành câu chuyện.

                * Yếu tố 1: Sự việc và nhân vật

                   Trong văn tự sự lúc nào cũng phải có sự việc và nhân vật (vì nhân vật là linh hồn của câu chuyện) đó là yếu tố cơ bản để có câu chuyện.

                    Như vậy, đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm sự việc và nhân vật trong câu chuyện.

                    Có thể theo hai kiểu tích hợp ngang và tích hợp dọc :

                    Tích hợp ngang à Ví dụ 1: Tích hợp với phần văn (Văn bản Thánh Gióng).

                   Giáo viên: Văn bản “Thánh Gióng” nói đến sự việc gì ?

                    Ai là nhân vật chính của truyện.

                    Tích hợp dọc à Ví dụ 2: Giáo viên đọc câu chuyện kể về kỉ niệm ngày đầu tiên đi học của em (Truyện kể của học sinh lớp 8).

                     Giáo viên: Sự việc gì được nhắc đến trong câu chuyện ? Ai là người có mặt trong sự việc đó?

                Liên hệ ,thực hành

                Ví dụ 3: Giáo viên đưa ra nhân vật, đưa ra các sự việc cho học sinh tập kể chuyện .

                Cũng có thể giáo viên chỉ đưa ra nhân vật hoặc chỉ đưa ra các sự việc cho học sinh để phát huy tính  tích cực, sáng tạo của học sinh.

                * Yếu tố 2:  Ngôi kể và lời kể

               Ngôi kể và lời kể là 2 yếu tố không thể thiếu trong văn kể chuyện, nhờ nó mà người viết, người kể nối kết các sự việc, sự kiện trong câu chuyện thành một chuỗi mắt xích, đan kết có hệ thống.

            Ở đây khi  giáo viên cho học sinh kể thì lời kể và ngôi kể chính là của học sinh, cho nên để có lời kể hay giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm từ ngữ để kể.

       Ví dụ 1: Giáo viên đọc câu chuyện kể về kỉ niệm ngày đầu tiên đi học của em

( Truyện kể của học sinh lớp 8)

 Giáo viên: Ai là người kể trong câu chuyện? Người kể đã sử dụng ngôi thứ mấy để kể? Khi kể người kể phải lựa chọn ngôi kể như thế nào cho phù hợp?

      Ví dụ 2: Giáo viên lấy đọan văn 2 SGK trang 88.

      “Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, tôi  đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng tôi mẫm bóng…”

        Giáo viên: Đoạn văn trên ai là người kể? Người kể sử dụng ngôi thứ mấy để kể? Dựa vào dấu hiệu nào để nhận ra ngôi kể?

      Ví dụ 3: Đọan văn thay từ “tôi” bằng Dế Mèn: “Bởi Dế Mèn ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên Dế Mèn chóng lớn lắm. Chẳng bao lâu, Dế mèn đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. Đôi càng Dế Mèn mẫm bóng …”

                Đọan văn trên ai là người kể ? Người kể sử dụng ngôi thứ mấy để kể ?   

Giáo viên cho học sinh so sánh hai đoạn văn : Khi đổi ngôi kể trong văn Kể chuyện thì có tác dụng gì không? Khi xưng “tôi” nhất thiết có phải là mình hay không?

* Yếu tố 3 : Thứ tự kể trong văn tự sự :

Để học sinh kể chuyện được linh hoạt, không gò bó trong mô hình tự sự dân gian thì việc chọn thứ tự kể nào phụ thuộc vào đặc điểm thể loại và nhu cầu biểu hiện nội dung. Đây là yếu tố mới so với chương trình sách giáo khoa cũ vì thế giáo viên muốn dạy học sinh kể chuyện được hay. Cần phải thích hợp với phần văn bản.

Ví dụ 1: Văn bản “Sơn Tinh, Thủy Tinh”.

Giáo viên cho học sinh đọc thầm.

Giáo viên : Hãy tóm tắt các sự việc trong truyện?.

Cho biết các sự viện trong truyện được kể theo thứ tự nào?

Kể theo thứ tự đó tạo nên hiệu quả nghệ thuật gì?

Từ đó, giáo viên dẫn dắt học sinh hình thành thứ tự kể xuôi (tự sự dân gian).

Ví dụ 2 : Truyện “ Thằng Ngỗ ”.

Giáo viên : Thứ tự của các sự việc trong bài văn bản đã diễn ra như thế nào?

Bài văn đã kể lại theo thứ tự nào? Kể theo thứ tự này có tác dụng nhấn mạnh điều gì? Nêu ưu nhược điểm của hai cách kể trên?

-Để phát huy hơn nữa tính tích cực của học sinh trong giờ học, giáo viên có thể cho học sinh thảo luận bằng cách đưa ra các sự việc trong câu chuyện không theo thứ tự để học sinh sắp xếp lại trước khi kể.

-Bên cạnh đó, để phát huy sự nhanh nhẹn của học sinh và giúp các em nhớ lâu hơn, giáo viên cho học sinh xem tranh, khi đó học sinh nhìn vào tranh và tự kể lại câu chuyện

*Yếu tố 4 : Sử dụng từ ngữ khi kể:

- Khi kể chuyện, người kể (học sinh) phải lựa chọn từ ngữ cho phù hợp nhằm làm cho lời văn, bài văn bóng bẩy, sinh động. Vì thế giáo viên phải tích hợp với phân môn Tiếng việt ở các bài (Từ mượn,  Nghĩa của từ, Chữa lỗi dùng từ, Từ láy).

Ví dụ : Một số văn bản tự sự dân gian được sử dụng nhiều từ Hán việt  (sính lễ, sứ giả, Thủy Tinh,  tiên vương, sơn hào hải vị, trượng, lẫm liệt…). Khi kể học sinh nên sử dụng các từ ngữ đó để kể.

Nếu nguyên bản có những từ ngữ hay gây ấn tượng về hình tượng nhân vật, sự việc thì nên giữ lại hoặc trích dẫn lại trong nguyên bản.

2.2. Đối với học sinh.

Học sinh là trung tâm trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, cho nên học sinh phải tích cực để lĩnh hội các kiến thức mà giáo viên truyền đạt. Có như thế thì kết quả mang lại cho cả giáo viên và học sinh sẽ đạt cao.

Muốn kể hay trước hết phải có câu chuyện hay. Nhưng câu chuyện hay sẽ trở nên vô nghĩa với một học sinh kể dỡ. Kể chuyện bằng lời hay viết là một hoạt động nghệ thuật, đầy sáng tạo và phải rèn luyện công phu muốn vậy học sinh cần đọc văn bản truyện nhiều lần. Suy nghĩ về sự việc, nhân vật trong truyện, cảm xúc (tình cảm) dành cho nhân vật.

Có thể đọc thành tiếng nhiều lần để cảm nhận sâu sắc.

Để tìm hiểu câu chuyện có thể hỏi và trả lời một số câu hỏi sau:

+ Đọc kỹ đề.

+ Thể loại?

+ Nêu vấn đề gì? (Chủ đề của truyện hay nội dung chính).

+ Truyện xảy ra bao giờ? Ở đâu?

+ Ý nghĩa câu chuyện?

+ Bài học rút ra từ câu chuyện?

+ Truyện có mấy nhân vật? Mỗi nhân vật đại diện cho tầng lớp, giai cấp nào trong xã hội?.

+ Cuộc đời, số phận của từng nhân vật?

          + Diễn biến và kết thúc câu chuyện ra sao?

+ Sắp xếp việc gì kể trước, việc gì kể sau người đọc theo dõi câu chuyện và hiểu được ý định của người viết.

+ Cuối cùng phải viết văn bản theo bố cục ba phần: Mở bài, thân bài, kết bài.

+ Sử dụng từ ngữ phù hợp với từng thể loại  truyện.(Ví dụ : Kể chuyện dân gian (đã học), truyện đời thường, truyện tưởng tượng).

+ Biết viết lời văn giới thiệu nhân vật, giới thiệu sự việc…

+ Biết sử dụng ngôi kể phù hợp, có thể kể đan xen gây sự chú ý cho người đọc,  người nghe.

3. Trên cơ sở khai thác các yếu tố kể chuyện trong văn tự sự, qua đó rèn kỹ năng viết văn tự sự cho các em.

3.1. Hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu đề:

Bước đầu để học sinh xoáy vào trọng tâm của thể loại bắt buộc giáo viên phải hướng dẫn học sinh cách tìm hiểu các dạng đề bài của văn kể chuyện. Khi đề cập vấn đề này, đòi hỏi giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự khác nhau của các hình thức kể chuyện. Đó chính là yêu cầu giúp học sinh sau này khi kể chuyện sẽ phân biệt được yêu cầu của đề bài không còn nhầm lẫn về yêu cầu thể loại. Sau khi đọc kỹ đề bài giáo viên yêu cầu học sinh gạch chân những từ, ngữ quan trọng trước.

Ở đây khi nêu dẫn chứng minh họa, tôi sẽ đào sâu vào ba hình thức cơ bản của thể loại văn tự sự mà học sinh thường gặp đó là:

+Kể chuyện đã học.

+Kể chuyện đời thường.

+Kể chuyện tưởng tượng.

Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu sự khác nhau của ba hình thức kể chuyện

a/ Kể chuyện đã học:

    Như đã nêu ở trên hình thức kể chuyện này khá dễ dàng đối với học sinh vì đã được học sinh đọc, nghe hoặc xem nên khi gặp dạng đề này hầu hết học sinh đều có tâm trạng thoải mái để kể.

Ví dụ: Kể lại chuyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” qua lời kể của Sơn Tinh.

- Giáo viên: Câu chuyện này em đã đọc (nghe) chưa? Ở đâu?

- Học sinh: Đã đọc rồi trong sách giáo khoa Ngữ văn 6.

- Giáo viên: Đề văn này thuộc hình thức nào của thể loại kể chuyện? Tại sao em xác định như vậy?

- Học sinh: Đề văn thuộc hình thức kể chuyện đã học. Vì đây là câu chuyện kể của người xưa mà em đã được học.

- Giáo viên: Lời kể trong đề văn là của ai ? Lời văn đó được kể theo ngôi thứ mấy?

- Học sinh: Lời kể trong đề văn là của Sơn Tinh, ngôi thứ nhất nghĩa là Sơn Tinh tự kể về mình.

- Khi giáo viên hướng dẫn học sinh vào việc tìm hiểu đề, xác định được hình thức kể, ngôi kể, lời kể. Sau đó giáo viên sẽ hướng dẫn học sinh làm dàn ý cho câu chuyện.

- Giáo viên: Dàn bài của bài văn và tự sự gồm mấy phần?

- Học sinh : gồm 3 phần.

- Giáo viên: phần mở đầu ta sẽ làm gì?

- Học sinh: giới thiệu Sơn Tinh (tôi) hoàn cảnh xuất hiện của Sơn Tinh và Thủy Tinh.

- Giáo viên: Giáo viên cho học sinh thảo luận nhóm (3 phút đến 5 phút ).Sau đó gọi học sinh đại diện nhóm lên nói (ở phần này giáo viên sẽ kết hợp với luyện nói ). Sau đó giáo viên cùng các nhóm còn lại nhận xét và bổ sung (học sinh viết vào vở nhưng về nhà viết ).

- Giáo viên: phần thân bài ta sẽ làm như thế nào?

- Học sinh: Kể lại các sự việc xảy ra với Sơn Tinh và Thủy Tinh.

- Giáo viên: Việc gì đã xảy ra với họ? Sự việc đó xảy ra theo trình tự nào?

- Học sinh: Vua Hùng kén rễ à Sơn Tinh, Thủy Tinh đến cầu hôn à Sơn Tinh đem lễ vật đến trước được Mị Nương à Thủy Tinh đến sau không cưới được vợ à Thủy Tinh đem quân đánh Sơn Tinh ( diễn biến trận đánh ) à Thủy Tinh thua.

Các sự việc trên xảy ra theo trình tự thời gian.

- Giáo viên: Cho học sinh viết phần thân bài và sau đó nhận xét, bổ sung (học sinh về nhà làm lại cho hòan chỉnh).

- Giáo viên: phần kết bài phải làm như thế nào?

- Học sinh: Nêu kết cục sự việc, cảm nghĩ của em thông qua nhân vật Sơn Tinh.

- Giáo viên: Học sinh thảo luận nhóm, sau đó nói trước lớp.

  Các nhóm còn lại cùng giáo viên nhận xét và bổ sung.

  (Học sinh về nhà làm cho hòan chỉnh hơn).

Sau khi hoàn tất câu chuyện đủ ba phần, giáo viên sẽ cho một học sinh (giáo viên chọn bài hay) đọc lại toàn bộ câu chuyện này.

Giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà hoàn tất câu chuyện. Học sinh cần lưu ý các điểm sau:

Giáo viên diễn giảng: Dựa theo truyện “Sơn Tinh, Thủy Tinh” trong sách giáo khoa để viết (kể). Vì thế các em có thể lấy những chi tiết đã có trong truyện. Nếu muốn làm bài có nhiều sáng tạo học sinh có thể tưởng tượng thêm những chi tiết khác để kể. Điều quan trọng là ngôi kể trong bài viết phải là ngôi thứ nhất, nghĩa là Sơn Tinh tự kể về mình.

+ Khi trình bày tốt nhất nên tuân thủ cách kể theo trình tự thời gian, theo sự phát triển của hành động.

+ Khi kể cần giữ lại các chi tiết chính. Với những chi tiết phụ học sinh có thể lươc bớt để truyện đỡ dài, tập trung và ngắn gọn hơn.

+ Đây là bài văn tự sự, không phải là bài tả cảnh vì thế cần tập trung vào việc kể. Để kể được sinh động, lôi cuốn, có thể vừa kể, vừa xen thêm việc miêu tả (Lưu ý: miêu tả không phải là yêu cầu chính của bài viết này).

b/ Kể chuyện đời thường:

Hình thức kể này, dễ tạo nên tình cảm, cảm xúc cho học sinh vì câu chuyện chủ yếu thể hiện tình cảm theo dòng hồi tưởng của nhân vật kể.

Để kể được câu chuyện theo hình thức này bắt buộc người kể (học sinh)  phải trực tiếp ở trong câu chuyện thuật lại những chuyện có thật diễn ra xung quanh mình.

Giáo viên : So với đề kể chuyện  đã học thì đề kể chuyện về bản thân có gì khác?

Học sinh : Giữa hai dạng đề có sự khác nhau. Kể chuyện đã học là chúng ta kể lại câu chuyện có sẵn, do tác giả sáng tạo ra ta chỉ việc kể lại qua lời văn của mình hoặc đóng vai vào nhân vật nhưng phải kể theo đúng trình tự sự việc.

Còn kể chuyện đời thường  chúng ta chính là tác giả của câu chuyện, có mặt trong câu chuyện hơn nữa bản thân lại là nhân vật chính trong truyện.

VD:  Kể lại một kỉ niệm mà em nhớ nhất về thầy (cô giáo) cũ của em.

GV: Đề bài này đối với bản thân em có đặt biệt ? Tại sao?

HS: Yêu cầu phải kể lại kỉ niệm của bản thân em về thầy (cô) giáo, kỉ niệm đó đã diễn ra đối với bản thân em rồi.

- GV: Điều gì khiến em có thể kể lại kỉ niệm đó?

- HS:  Đó là một kỉ niệm mà em không thể nào quên.

- GV: Em kể lại kỉ niệm đó bằng hình thức nào?

( Em đã ghi lại kỉ niệm đó rồi kể lại hay em hồi tưởng lại để kể )

- HS: Em đã hồi tưởng lại để kể vì kỉ niệm đó khó phai trong tâm trí em.

- GV: Kỉ niệm đó gợi cho em suy nghĩ gì? (buồn, vui …)

- HS1: Kỉ niệm đó làm cho em rất vui vì đó là lời khen của thầy cô dành cho em.

- HS2: Kỉ niệm đó là kỉ niệm buồn đối với em vì em đã mắc lỗi đối với thầy (cô) đã dạy dỗ em nên người.

- GV:  Kỉ niệm buồn, vui đó nhằm nói lên điều gì nơi con người chúng ta?

- HS: Thể hiện tình cảm của các em về vấn đề đã mang đến niềm vui, nỗi buồn đó.

- GV: Khi kể về một câu chuyện thuộc về bản thân thì lời kể là của ai?  Kể theo ngôi thứ mấy? Xưng như thế nào?

- HS: Lời kể trong đề văn trên là của bản thân em kể theo ngôi thứ nhất, xưng tôi (em).

GVDG: Kể chuyện đời thường bắt buộc người kể có mặt trực tiếp trong câu chuyện và người kể (Hs) là nhân vật chính. Câu chuyện sẽõ được tái hiện lại qua dòng hồi tưởng của người kể (Hs) và phải thể hiện được tình cảm vui, buồn, thương, nhớ … đồng thời qua câu chuyện đó ta rút ra được bài học gì?

Tóm lại, kể chuyện về bản thân là kể lại sự việc thật, con người thật và tình cảm thật của người kể.

GV: hướng dẫn HS làm mở bài, thân bài, kết bài.

GV: Đối với kể chuỵên đời thường phần mở bài ta phải làm gì?

HS: Giới thiệu sơ lược về kỉ niệm đối với thầy (cô) cũ, thời gian của kỉ niệm đó, không gian, địa điểm, hoàn cảnh xảy ra kỉ niệm đó.

Bước đầu gợi cho người nghe (đọc) hình dung được vấn đề cần kể.

Giáo viên cho học sinh trao đổi nhóm bằng cách viết (nói), các nhóm góp ý và hoàn chỉnh phần mở bài.

GV: Phần thân bài ta phải kể lại như thế nào?

HS: Kể lại sự việc đã xảy ra trong quá khứ (Kỉû niệm về thầy cô giáo cũ) sự việc phải có thật không thêm vào những tình tiết tưởng tượng.

GV: Ngoài việc kể lại kỉ niệm về thầy (cô) giáo cũ, thân bài cần phải kể gì nữa không?

HS: Ngoài ra phần thân bài cần phải bày tỏ tình cảm, cảm xúc của người kể về kỉ niệm đó.

GV cho HS tự làm phần thân bài (vì mỗi học sinh đều có kỉ niệm khác nhau), sau đó GV nhận xét về cách kể cũng như việc bộc lộ tình cảm, cảm xúc của người kể. Giáo viên bổ sung cho phần thân bài hoàn chỉnh hơn.

GV: Phần kết bài có nhiệm vụ quan trọng như thế nào trong loại kể chuyện đời thường?

HS: Nêu cảm nghĩ của bản thân về kỉ niệm đó?

GV cho HS viết phần kết bài, gọi một vài học sinh đọc, sau đó GV nhận xét bổ sung.

Khi đã hướng dẫn học sinh hoàn tất ba phần của câu chuyện, GV sẽ cho học sinh đọc lại toàn bộ bài làm.

c. Kể chuyện tưởng tượng:

Trong các dạng đề văn tự sự thì kể chuyện tưởng tượng là dạng gây khó cho học sinh nhưng lại thu hút sự chú ý của học sinh nhiều hơn. Khó ở chỗ không có câu chuyện cũng như các sự việc trong câu chuyện mà bắt buộc học sinh phải “tưởng tượng”. Nhưng khó mà lại có sự thu hút lớn đối với lứa tuổi này, nhiều học sinh có trí tưởng tượng rất phong phú.

Kể chuyện tưởng tượng có sự khác biệt so với kể chuyện đã học và kể chuyện đời thường… Kể chuyện tưởng tượng thì đặc điểm chính là trí tưởng tượng của người kể, nghĩa là người kể phải bịa ra một câu chuyện nhưng câu chuyện đó phải có ý nghĩa thiết thực trong cuộc sống. Đồng thời kết hợp với biện pháp tu từ nhân hóa.

Giáo viên cần so sánh sự khác nhau về hình thức kể chuyện tưởng tượng và kể chuyện đời thường.

GV: So với đề kể chuyện đời thường thì kể chuyện tưởng tượng có gì khác?

HS: Hai dạng đề trên có sự khác nhau: Kể chuyện đời thường trong đó bản thân người kể đóng vai trò chính, phải có mặt trực tiếp trong câu chuyện và phải kể những gì có thật. Còn kể chuyện tưởng tượng thì người kể phải bịa ra nhưng dựa trên cơ sở có thật của sự việc, sự vật được kể, người kể phải có tình cảm sâu sắc đối với sự vật, sự việc đó.

VD: Em hãy tưởng tượng cuộc tranh cãi gay go giữa xe đạp, xe máy và ô tô trong nhà em về việc so bì hơn thiệt. Em sẽ dàn xếp cuộc tranh cãi này như thế nào?

GV: Ta thấy đề bài trên có gì khác lạ? Tại sao lại có sự khác lạ đó?

HS: Sự khác lạ của đề bài là sự tranh cãi giữa xe đạp, xe máy và ô tô. Sự khác lạ đó có được là do sự tưởng tượng mà ra vì cả ba sự vật trên đều vô tri, vô giác nên không thể nào tranh cãi được.

GV: Cuộc tranh cãi đó có diễn ra thật hay không?

HS: Hoàn toàn không có thật, do tưởng tượng mà ra.

GV: Để kể một chuyện  như thế này người kể phải làm gì?

HS: Người kể phải tự mình đặt ra nhưng phải dựa trên thực tế.


Ngô Thị Minh Trang



Gửi qua YM

 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email


Gửi ý kiến của bạn về bài viết
Tên bạn: *  (Ghi đầy đủ Họ và Tên có dấu của bạn)
Email: *  (Địa chỉ Email có thật của bạn)
Nội dung *
(Hãy tiếng Việt có dấu.)
Mã kiểm tra Mã kiểm tra
Lặp lại mã kiểm tra *


Những bản tin khác:



Gửi tin
Lên đầu trang
 TIN MỚI NHẤT 
 Nhận tin qua mail 
Email của bạn

Định dạng tin

 Lịch vạn sự 
Tháng
Năm 

Danh ngôn:
Đừng lo mình không có chức vị, chỉ lo mình không đủ tài để nhận lấy chức vị
Khổng Tử
Trang chủ    ¤   Liên hệ    ¤   Sơ đồ site

Thời gian mở trang: 0.461 giây. Số lần truy cập CSDL: 27
©2010 - Bản quyền thuộc về ..:: Trường THCS PHƯỜNG 2 ::... Website được xây dựng với sự hỗ trợ của Cty H.K Vietnam Ltd..